Lockheed Martin KC-130J Super Hercules:
Mặc dù dùng chung đến 55% khung sườn của các phiên bản tiền nhiệm nhưng KC-130J thực tế đã được cải tiến rất nhiều. KC-130J có thể tiếp nhiên liệu trên không cho các máy bay tấn công chiến lược và trực thăng trong bán kính hoạt động 930 km đồng thời có thể tiếp nhiên liệu trên mặt đất nhanh chóng khi cần thiết. Ngoài ra, KC-130J còn có thể thực hiện nhiều vai trò như vận chuyển binh lính, trang thiết bị, hàng hóa cung ứng đến các khu vực không thể hạ cánh tại chiến trường, sơ tán y tế khẩn cấp, đổ bộ chiến lược và các nhiệm vụ sơ tán khác.
Trên 2 cánh có lắp các hệ thống tiếp nhiên liệu Mark32B-901E do Sargent Fletcher sản xuất. Hệ thống tích hợp các vi xử lý điều khiển và đường ống định hướng điện nhằm đảm bảo độ tin cậy, dòng nhiên liệu và tính tương thích. Hệ thống cho phép nhiên liệu được truyền đi ở nhiều áp lực và tỉ lệ chảy khác nhau, tương thích với nhiều loại đầu nhận. Mỗi đường ống có thể truyền tối đa 1135 lít nhiên liệu mỗi phút vào 2 máy bay cùng lúc, cho phép rút ngắn thời gian tiếp nhiên liệu luân chuyển cho các phi đội bay. Kết quả là KC-130J có thể tiếp nhiên liệu cho 1 phi đội 4 máy bay trong chưa đầy 30 phút. Khi cần thêm nhiên liệu, một khối lượng nhiên liệu 11.000 kg sẽ được tháo ra từ một thùng chứa đặc biệt lắp trong thân máy bay. Thùng nhiên liệu này có thể được tháo rời để chừa lại khoảng trống cho khoang hàng hóa, tăng tính linh hoạt cho máy bay.
Những cải tiến quan trọng trên KC-130J bao gồm buồng lái 2 phi công tiên tiến với hệ thống điện tử hàng không kỹ thuật số, cấu trúc dữ liệu MIL-STD 1553B, các màn hình MFD đa chức năng và HUD. Các bổ sung tiếp theo còn có hệ thống dẫn đường tiên tiến với 2 hệ thống GPS nhúng, hệ thống dẫn đường quán tính, hệ thống lên lịch trình sứ mạng, bản đồ điện tử và chế độ autopilot mới.
Thông số kỹ thuật của KC-130J Super Hercules:
- Chiều dài thân: 29,79 m
- Chiều rộng sải cánh: 40,41 m
- Diện tích cánh: 162,1 m2
- Chiều cao: 11,84 m
- Động cơ: 4 động cơ tuabin cánh quạt Rolls-Royce AE2011D3, công suất 3458 kW/động cơ
- Cánh quạt: mỗi động cơ 1 cánh quạt Dowty R391 6 cánh bằng vật liệu composite
- Thể tích khoang hàng: 128,9 m3
- Tải trọng: 19.090 kg
- Tải trọng cất cánh tối đa: 79.378 kg
- Tốc độ tối đa: 671 km/h
- Tốc độ hành trình: 643 km/h
- Trần bay: 8615 m với tải trọng mang theo 19.090 kg
- Tầm bay: 7917 km với các thùng nhiên liệu phụ
- Cự ly cất cánh: 953 m.
- Giá cho mỗi chiếc KC-130J Super Hercules vào khoảng 37 triệu USD.
Boeing C-17 Globemaster III:
C-17 Globemaster III sở hữu 4 động cơ tuabin phản lực cánh quạt, cho phép vận chuyển một khối lượng hàng hóa lớn xuyên lục địa mà không cần tiếp nhiên liệu. Máy bay được phát triển nhằm mục đích cung cấp trang thiết bị chiến đấu và lực lượng trực tiếp đến chiến trường. Máy bay có thể dỡ hàng ở khi hạ cánh hoặc ngay trên không, đồng thời có thể đảm nhận các nhiệm vụ như sơ tán y tế và các sứ mạng đặc biệt. Với chiều rộng khoang hàng 5,5 m, cao tối đa 4,6 m, Globemaster III có thể chứa 1 chiếc xe tank M1 hoặc 3 xe bọc thép IAV Strykers hoặc 6 xe ASV M1117.
C-17 Globemaster III được trang bị 4 động cơ Pratt & Whitney F117-PW-100, phiên bản thương mại PW2040 của loại động cơ này hiện đang được sử dụng trên Boeing 757. Mỗi động cơ tạo ra lực đẩy 180 kN tương đương 18,3 tấn lực. Các động cơ được treo tại giá treo phía trước và bên dưới bờ tiến của cánh. Như đã nói ở trên, các động cơ đều có bộ đối chiếu lực đẩy (thrust reverser) và có thể được kích hoạt ngay khi đang bay. Trên mặt đất, một chiếc máy bay tải đủ sử dụng động cơ có hệ thống đối chiếu lực đẩy có thể chạy lùi lên một mặt dốc 2%. Vì vậy, các bộ đối chiếu lực đẩy sẽ dẫn luồng khí từ động cơ ra trước hoặc sau để tránh hút phải bụi hoặc mảnh vụn xung quanh. Kết hợp với nguyên lý nâng đẩy, các bộ đối chiếu lực đẩy cho phép máy bay tiếp đất ngắn. Bộ đối chiếu lực đẩy là một phần tích hợp bên trong vỏ động cơ của C-17. Khi bộ đối chiếu lực đẩy được kích hoạt, các cánh quạt và họng xả đều được tái định hướng. Lực đẩy được đưa tới trước và sau thông qua các cửa chớp để tăng tối đa lực đẩy đảo chiều. Trong suốt các hoạt động trên mặt đất, bộ đối chiếu lực đẩy có thể được kích hoạt khi động cơ đang tạm nghỉ, giúp dẫn luồng khí từ động cơ ra hướng khách để đảm bảo an toàn cho các nhân viên tải hàng.
Yếu tố tiếp theo tạo nên nét đặc trưng về diện mạo và năng lực đặc biệt của C-17 Globemaster III là hệ thống nâng đẩy, trong đó sử dụng luồng khí từ động cơ để gia tăng lực nâng. Bằng cách dẫn luồng khí từ động cơ vào các cánh tà lớn nằm ngoài đặt sau cánh để tăng thêm lực nâng, C-17 có thể tiếp cận đường băng dốc ở tốc độ hạ cánh rất chậm. Cụ thể, máy bay có thể hạ cánh với tổng lượng hàng hóa lên đến 72 tấn trên một đường băng chỉ dài 914 m.
2 nữ quân nhân trên C-17 Globemaster III, cô bên trái là bác sĩ và cô còn lại là chuyên viên bốc dỡ hàng hóa (loadmaster).
- Chiều dài thân: 53 m
- Chiều rộng sải cánh: 51,75 m
- Diện tích cánh: 353 m2
- Chiều cao: 16,8 m
- Động cơ: 4 động cơ tuabin phản lực cánh quạt Pratt & Whitney F117-PW-100, tạo lực đẩy 180 kN mỗi động cơ;
- Tầm bay không cần tiếp nhiên liệu: 9630,4 km
- Tốc độ tối đa: Mach 0.77 (817,8 km/h)
- Tốc độ hành trình: Mach 0.74 (786 km/h)
- Trần bay tối đa: 13.716 m
- Tải trọng: 77.519 kg
- Tổng trọng tải cất cánh tối đa: 265.350 kg
- Cự ly cất cánh với trọng tải tối đa: 2316 m
- Cự ly hạ cánh tối thiểu: 914 m
- Chiều rộng đường băng tối thiểu: 27 m






.jpg)























